Mẫu đánh giá ngôn ngữ hành vi
Xác định mức độ thể hiện đúng nhất khả năng của trẻ qua các câu hỏi sau.
- HỢP TÁC VỚI NGƯỜI LỚN _ _ _ _ _ _ (điền điểm)
Làm việc với trẻ có dễ không?
- Luôn bất hợp tác, né tránh việc, có những hành vi xấu
- Chỉ có một phản hồi nhanh và dễ nếu có phần thưởng lớn
- Có 5 phản hồi mà không có hành vi gây rối nào
- Hợp tác được 5 phút mà không có hành vi gây rối nào
- Hợp tác tốt được 10 phút trên bàn mà không có hành vi gây rối nào
- YÊU CẦU (Mands) _ _ _ _ _ _
Trẻ thể hiện nhu cầu và mong muốn được chú ý thế nào?
- Không thể hỏi xin phần thưởng/vật mong muốn, hoặc có hành vi xấu
- Kéo tay người khác, chỉ, hoặc đứng gần phần thưởng
- Sử dụng 1 đến 5 từ, ra ký hiệu, hoặc dùng tranh để hỏi xin phần thưởng
- Sử dụng 5 đến 10 từ, ra ký hiệu, hoặc dùng tranh để hỏi xin phần thưởng
- Thường xuyên dùng được 10 từ hoặc hơn để yêu cầu, ra ký hiệu, hoặc dùng tranh
- BẮT CHƯỚC HÀNH ĐỘNG _ _ _ _ _ _
Trẻ có bắt chước hành động không?
- Không thể bắt chước một hoạt động nào của người khác
- Bắt chước được một số vận động thô người khác làm mẫu
- Bắt chước được một số vận động thô theo yêu cầu
- Bắt chước được một số vận động thô và vận động tinh theo yêu cầu
- Dễ dàng bắt chước được các vận động thô và vận động tinh, thường không phải nhắc
- PHÁT ÂM _ _ _ _ _ _
Trẻ có chủ động phát ra âm thanh và từ ngữ không?
- Không phát ra âm thanh nào (câm)
- Thỉnh thoảng lắm mới có một vài âm thanh
- Bập bẹ rất nhiều âm thanh với nhiều âm điệu khác nhau
- Thường xuyên bập bẹ âm điệu khác nhau và nói được một số từ
- Bập bẹ thường xuyên và nói nhiều từ có nghĩa rõ ràng
- BẮT CHƯỚC ÂM (Nhại) _ _ _ _ _ _
Trẻ có nhại được âm thanh hoặc từ ngữ không?
- Không thể lặp lại bất kỳ âm hoặc từ nào
- Lặp lại được vài âm hoặc từ
- Lặp lại gần đúng các âm hoặc từ
- Lặp lại gần đúng nhiều từ
- Lặp lại rõ ràng các từ hoặc thậm chí là một câu đơn giản
- GHÉP THEO MẪU _ _ _ _ _ _
Trẻ có ghép được đồ vật, tranh và hình khối theo mẫu có sẵn không?
- Không thể ghép bất kỳ một vật hoặc tranh nào theo mẫu
- Có thể ghép 1 hoặc 2 vật hoặc tranh theo mẫu
- Có thể ghép 5 đến 10 vật hoặc tranh theo mẫu
- Có thể ghép 5 đến 10 màu sắc, hình khối hoặc vật theo mẫu
- Có thể ghép phần lớn các đồ vật và ghép 2 đến 4 hình khối xếp
- TIẾP THU _ _ _ _ _ _
Trẻ có hiểu lời hoặc làm theo chỉ dẫn không?
- Không thể hiểu một từ nào
- Tuân theo một số chỉ dẫn trong hoạt động hàng ngày
- Tuân theo một số chỉ dẫn làm một hành động nào đó hoặc chạm vào đồ vật
- Có thể tuân theo nhiều chỉ dẫn và chỉ được vào ít nhất 25 đồ vật
- Có thể chỉ vào ít nhất 100 đồ vật, hoạt động, con người, hoặc tính từ
- GỌI TÊN (Tacts) _ _ _ _ _ _
Trẻ có gọi được tên hoặc nói ra xác định được đồ vật hoặc hành động nào không?
- Không thể xác định bất kỳ đồ vật hoặc hành động nào
- Xác định được 1 đến 5 đồ vật hoặc hành động
- Xác định được 6 đến 15 đồ vật hoặc hành động
- Xác định được 16 đến 50 đồ vật hoặc hành động
- Xác định được trên 100 đồ vật hoặc hành động và nói được một số câu ngắn
- XÁC ĐỊNH VẬT THEO CHỨC NĂNG, ĐẶC ĐIỂM, VÀ PHÂN LOẠI _ _ _ _
Trẻ có xác định được vật khi biết thông tin về vật đó không?
- Không thể xác định đồ vật dựa trên thông tin về đồ vật đó.
- Xác định được vài đồ vật nếu có từ đồng nghĩa hoặc công dụng chung
- Xác định được 10 đồ vật nếu có 1 đến 3 chỉ dẫn về chức năng hoặc đặc điểm của vật
- Xác định được 25 đồ vật nếu có 4 chỉ dẫn về chức năng, đặc điểm hoặc phân loại
- Xác định được 100 đồ vật nếu có 5 chỉ dẫn về chức năng, đặc điểm hoặc phân loại
- HỘI THOẠI (Bằng lời) _ _ _ _ _ _
Trẻ có thể điền chỗ trống các từ thiếu hoặc trả lời câu hỏi được không?
- Không thể điền chỗ trống các từ hoặc phần còn thiếu của bài hát
- Có thể điền một số từ còn thiếu, hoặc biết tiếng kêu của một số con vật
- Có thể điền 10 cụm từ còn trống (không phải đồ trẻ ưa thích) hoặc trả lời được 10 câu hỏi
- Có thể điền được 20 cụ từ hoặc trả lời 20 câu hỏi khác nhau
- Có thể trả lời ít nhất 30 câu hỏi khác nhau
- CHỮ CÁI VÀ CON SỐ _ _ _ _ _ _
Trẻ có biết chữ, số, hoặc từ nào không?
- Không thể xác định được bất kỳ chữ cái, con số hoặc từ nào
- Có thể xác định được ít nhất 3 chữ cái hoặc con số
- Có thể xác định được ít nhất 15 chữ cái hoặc con số
- Có thể đọc được ít nhất 5 từ và xác định 5 con số
- Có thể đọc được ít nhất 25 từ và xác định 10 con số
- TƯƠNG TÁC XÃ HỘI _ _ _ _ _ _
Trẻ có khởi xướng và duy trì tương tác với người khác được không?
- Không có tương tác với người khác
- Tiếp cận người khác để bắt đầu tương tác
- Biết hỏi xin người lớn để có phần thưởng/vật mong muốn
- Giao tiếp bằng lời với bạn cùng lứa có sự nhắc nhở của người lớn
- Thường bắt đầu và duy trì được tương tác lời với bạn cùng lứa
Mục đích của đánh giá hành vi là để cung cấp cho người đánh giá các thông tin để thiết kế một chương trình can thiệp ngôn ngữ cho từng trẻ riêng biệt. Kết quả đánh giá ban đầu rất khác nhau đối với từng trẻ có những triệu chứng đặc thù. Thực tế, thường thì trẻ có cùng chẩn đoán (VD: rối loạn tự kỷ) có điểm đánh giá rất khác nhau ở mỗi lĩnh vực đánh giá. Những điểm khác nhau này làm cho việc phát triển một chương trình riêng cho từng trẻ càng trở nên quan trọng chứ không phải là cố gắng thực hiện một chương trình đại trà cho từng nhóm trẻ có cùng chẩn đoán.
Phân tích Đánh giá ban đầu từng bước
Bản đánh giá này được thiết kế để đánh giá khả năng của trẻ bình thưởng ở khoảng 2-3 tuổi. Phần lớn trẻ phải được điểm 5 ở mỗi lĩnh vực đánh giá (có thể trừ phàn chữ cái và số thì chưa được). Khả năng ngôn ngữ mức này cho phép trẻ bình thường có thể học hỏi từ những kinh nghiệm sống hàng ngày, và giúp chúng hòa nhịp xã hội với bạn đồng lứa và người lớn hiệu quả. Trẻ bị chậm nói, thường không đạt nổi thậm chí mức thấp nhất của giao tiếp, chỉ ở khoảng 1-2 điểm. Phần lớn trẻ chậm nói khác sẽ rơi vào khoảng trung bình. Điểm đánh giá ở mỗi mục có thể đưa lại các thông tin rất quan trọng về đứa trẻ, và đóng một vai trò cơ bản trong việc thiết kế chương trình can thiệp cho trẻ. Việc phân tích từng bước sau đây để giúp người đánh giá hiểu được kết quả của bản đánh giá.
Hợp tác với người lớn
Trẻ được 1 hoặc 2 điểm trong lĩnh vực này phần lớn là không hợp tác và khó dạy. Những trẻ như thế này có thể cần các biện pháp quản lý hành vi cụ thể kết hợp với chương trình ngôn ngữ. Các biện pháp này được mô tả ở Chương 5. Trẻ được 3 hoặc 4 điểm có thể vẫn cần những biện pháp đặc biệt, nhưng nhìn chung là dễ dạy hơn. Trẻ được 5 điểm thì đã sẵn sàng tham gia vào chương trình can thiệp ngôn ngữ.
Yêu cầu (Mands)
Trẻ được 1 hoặc 2 điểm trong phần đánh giá về Yêu cầu thì cần được tập trung dạy ngay lập tức về cách sử dụng từ, ký hiệu, hoặc tranh để yêu cầu vật mong muốn. Để can thiệp thành công đối với trẻ này có thể cũng cần các biện pháp quản lý hành vi kết hợp với chương trình can thiệp ngôn ngữ. Cách dạy trẻ yêu cầu và quản lý hành vi đối với trẻ này đều được mô tả ở Chương 5. Trẻ được 3 điểm trong lĩnh vực này sẽ cần một chương trình đào tạo về yêu cầu tăng cường. Còn với trẻ được 4 hoặc 5 điểm thì giáo viên có thể tập trung vào các lĩnh vực ngôn ngữ khác ngoài việc đào tạo về yêu cầu.
Bắt chước hành động
Trẻ được 1 điểm trong phần đánh giá bắt chước hành động cần phải được dạy tập trung ngay lập tức cho kỹ năng này. Trẻ này không nên học ngôn ngữ ký hiệu (trừ khi điểm trong phần phát âm cũng là 1 thì lúc đó ký hiệu được xem như là một cách phản hồi). Nếu trẻ được 2 điểm thì kế hoạch can thiệp vẫn cần tập trung phần lớn vào việc đào tạo về bắt chước hành động (được mô tả ở Chương 6). Trẻ được 2 điểm phần này nhưng không được hơn 1 điểm ở phần bắt chước âm (nhại lời) thì có thể học ngôn ngữ ký hiệu. Nếu phần nhại lời được điểm cao hơn thì ngôn ngữ có thể là cách trẻ phản hồi, nhưng trước khi quyết định cần phân tích kỹ hơn (xem Chương 4 để biết thêm thông tin). Nếu trẻ được 3 hoặc 4 điểm trong phần bắt chước hành động thì giáo viên có thể tập trung vào các lĩnh vực khác nhưng vẫn cần tiếp tục giúp trẻ cải thiện kỹ năng bắt chước người khác. Nếu trẻ được 3 hoặc 4 điểm về bắt chước, và 1 hoặc 2 điểm về nhại lời thì trẻ có lẽ nên bắt đầu học ngôn ngữ ký hiệu để phản hồi. Nếu trẻ được 5 điểm về bắt chước thì lĩnh vực này không cần can thiệp nữa, nhưng việc bắt chước vẫn có thể được sử dụng để phát triển ngôn ngữ ký hiệu, kỹ năng chơi, tương tác xã hội, hoặc các bài tập phản hồi phức tạp hơn để tăng khả năng trẻ học tốt hơn các hoạt động đào tạo ngôn ngữ khác.
Phát âm
Trẻ chỉ được 1 hoặc 2 điểm trong phần phát âm sẽ cần các bài tập đặc biệt để cải thiện kỹ năng này (được mô tả ở Chương 6). Nếu trẻ này cũng có điểm ở phần nhại lời thấp hơn phần bắt chước hành động thì trẻ nên học ngôn ngữ ký hiệu. Trẻ chưa có ngôn ngữ mà đạt điểm 3 hoặc 4 ở phần phát âm thì có thể nhanh chóng có được ngôn ngữ nói nếu có chương trình đào tạo phù hợp. Nếu trẻ được 5 điểm phát âm (không có các biểu hiện rối loạn rõ ràng nào khác) thì có thể là dấu hiệu cho biết trẻ (nếu nhỏ hơn 3 tuổi) chỉ đơn giản là bị chậm nói.
Bắt chước âm (nhại lời)
Trẻ được 1 điểm phần nhại lời chỉ ra rằng có thể khá là khó để dạy trẻ ngôn ngữ ngay lập tức. Nếu trẻ này đạt điểm 2 hoặc cao hơn ở phần bắt chước hành động thì trẻ có thể học ngôn ngữ ký hiệu nhanh hơn. Nếu trẻ đạt được 2 điểm phần nhại lời thì trẻ có thể học nói phụ thuộc vào điểm của trẻ ở phần bắt chước hành động và phát âm. Cách dạy trẻ nói được mô tả ở Chương 6. Với trẻ được 3 hoặc 4 điểm về nhại lời thì rõ ràng là trẻ có thể sử dụng ngôn ngữ để phản hồi. Nếu trẻ được 5 điểm (không có các biểu hiện rối loạn rõ ràng nào khác) thì có thể cho thấy trẻ (nếu nhỏ hơn 3 tuổi) có thể chỉ là chậm nói trong khi nhại lời thì rất tốt.
Ghép theo mẫu
1 điểm phần này chỉ ra rằng trẻ không thể làm các bài tập về thị giác hoặc phân biệt các vật nhìn thấy (biết rằng trẻ ít nhất đã cố gắng thử làm). Một trẻ chưa có ngôn ngữ không thể ghép các vật thường sẽ không phù hợp với hệ thống giao tiếp bằng tranh (xem Chương 4 để biết thêm chi tiết). Trình tự để nâng cao kỹ năng ghép cho trẻ được mô tả ở Chương 6. Trẻ được 2 hoặc 3 điểm phần ghép theo mẫu cho thấy trẻ bắt đầu có kỹ năng này và bài tập nâng cao kỹ năng quan trọng này phải được đưa vào chương trình học của trẻ. Điểm 4 hoặc 5 cho thấy trẻ đã phát triển tốt kỹ năng ghép. Một trẻ chưa có ngôn ngữ mà có điểm ghép cao, điểm thấp trong bắt chước hành động và nhại âm thì có thể sử dụng tốt việc tráo tranh hoặc chỉ tranh (xem Chương 4).
Tiếp thu
Trẻ được 1 điểm trong phần đánh giá tiếp thu cần được học tập trung ngay lập tức cho kỹ năng này. Trẻ cũng có thể cần được can thiệp hành vi trong chương trình can thiệp ngôn ngữ. Cả bài tập nâng cao tiếp thu và quản lý hành vi cho trẻ mức độ này đều được mô tả ở Chương 6. Trẻ được 2 hoặc 3 điểm phần này sẽ cần một chương trình đào tạo về tiếp thu tăng cường. Với trẻ được 4 hoặc 5 điểm thì giáo viên có thể tập trung vào các lĩnh vực ngôn ngữ khác ngoài tiếp thu.
Gọi tên (Tacting)
Trẻ được 1 điểm ở phần đánh giá cho kỹ năng gọi tên, và có điểm thấp ở phần yêu cầu, thì cần được học về yêu cầu hơn là học gọi tên ngay lập tức ở giai đoạn này (xem Chương 5). Néu trẻ đã có thể yêu cầu được một số vật (hoặc khi trẻ bắt đầu học được kỹ năng này), thì nên bắt đầu dạy về cách gọi tên cơ bản (xem Chương 6). Trẻ được 2 hoặc 3 điểm lĩnh vực này nên bắt đầu học tăng cường về gọi tên (xem Chương 7) cùng với việc học các hình thái ngôn ngữ khác đã liệt kê đến giờ. Nếu trẻ được 4 hoặc 5 điểm trong phần gọi tên thì tức là trẻ đã sẵn sàng cho việc học các hình thái ngôn ngữ nâng cao (xem Chương 8, 9, 10 và 11).
Xác định vật theo Chức năng, Đặc điểm và Phân loại (RFFC)
Trẻ được 1 hoặc 2 điểm phần này thường có một vốn từ nghèo nàn. Trẻ bình thường cũng chưa phát triển được kỹ năng này cho đến khi chúng có được một số vốn từ để gọi tên vật và tiếp thu. Nếu trẻ có ít nhất 50 từ biết tên và trả lời tiếp thu được thì có thể bắt đầu dạy trẻ kỹ năng xác định vật theo RFFC. Trình tự dạy kỹ năng này được mô tả ở Chương 8. Trẻ được 3 hoặc 4 điểm trong kỹ năng RFFC đã có một số vốn từ nhất định sẵn sàng cho việc học kỹ năng hội thoại. Trình tự dạy kỹ năng hội thoại được đề cập ở Chương 9. Nếu trẻ được 5 điểm về kỹ năng RFFC thì tức là trẻ đã có một kỹ năng ngôn ngữ hoàn chỉnh tinh tế nhưng có thể có một số khiếm khuyết ở vài lĩnh vực (VD: hội thoại). Trẻ ở mức độ này nên được đánh giá về ngôn ngữ chi tiết hơn (theo Partington & Sundberg, 1998), trình tự và kỹ thuật đánh giá được mô tả ở Phần 3 của quyển sách này.
Hội thoại (bằng lời)
Trẻ được 1 hoặc 2 điểm ở phần đánh giá này là chỉ có thể gọi tên và tiếp thu ít hơn 50 từ. Trẻ như vậy có thể chưa sẵn sàng cho việc học hội thoại tăng cường trừ khi chúng được ít nhất 3 điểm trong phần xác định vật theo chức năng, đặc điểm và phân loại (FFC). Nếu trẻ được 3 điểm về hội thoại, và 4 hoặc 5 điểm về gọi tên, tiếp thu, và RFFC thì trẻ nên được dành nhiều thời gian hơn để phát triển kỹ năng hội thoại. Trình tự dạy hội thoại được đề cập ở Chương 9. Điểm 4 hoặc 5 ở phần này cho thấy trẻ đã phát triển được kỹ năng ban đầu của hội thoại và trẻ cần được đào tạo nâng cao về hội thoại như đề cập trong Chương 11.
Chữ cái và con số
Điểm 1 hoặc 2 ở phần này cho thấy trẻ có một vốn từ nghèo để goi tên và tiếp thu. Vì vậy việc dạy về chữ và số là không phù hợp với trẻ biết ít từ (trừ khi trẻ có biệt tài trong lĩnh vực này như một số trẻ tự kỷ vẫn có). Trẻ được 3 hoặc 4 điểm trong đánh giá về chữ cái và con số cần được học thêm về lĩnh vực này đặc biệt nếu như trẻ được 4 hoặc 5 điểm về gọi tên, tiếp thu và hội thoại. Tuy nhiên cần phải nhớ rằng đến trẻ bình thường cũng chưa có được kỹ năng đọc và làm toán cho tới khi chúng biết được hàng nghìn từ. Vì vậy quan trọng là đừng quá quan tâm đến kỹ năng này trừ khi, như đã nói ở trên, là trẻ cho thấy có khả năng đặc biệt để về đọc và làm toán. Trẻ được 5 điểm trong phần này nên được đánh giá kỹ hơn (theo Partington & Sundberg, 1998). Trình tự dạy đọc và làm toán nâng cao với trẻ chậm nói không được đề cập đến trong quyển sách này, nhưng có rất nhiều chương trình học khác được thiết kế cho trẻ này (VD: chương trình Distar Reading và Distar Math).
Tương tác xã hội
Chỉ được 1 hoặc 2 điểm phần này là đặc trưng của nhiều trẻ tự kỷ và trẻ chậm phát triển khác, đặc biệt nếu như trẻ cũng có điểm thấp ở các phần đánh giá khác. Một đứa trẻ yếu về khả năng nói thì thường không thể thành công trong tương tác xã hội và trên thực tế trẻ còn phải trải qua những trải nghiệm không hay khi cố gắng có tương tác. Trẻ ở mức này nên được học tập trung để phát triển các kỹ năng ngôn ngữ cơ bản (VD: gọi tên, yêu cầu, tiếp thu, RFFC, và hội thoại sơ đẳng) trước khi bắt đầu học về tương tác xã hội. Trẻ được 3 hoặc 4 điểm bắt đầu có khả năng giao tiếp bằng lời với người khác có thể học về tương tác như mô tả trong Chương 11. 5 điểm phần này tức là trẻ đã sẵn sàng cho việc học về tương tác xã hội nâng cao.
Xây dựng một chương trình can thiệp
Để thiết lập được một chương trình can thiệp hiệu quả cho một trẻ cụ thể thì người đánh giá phải xác định được điểm bắt đầu phù hợp nhất cho chương trình. Quan trọng là người đánh giá không chỉ đơn giản nhặt ra các lĩnh vực có điểm thất nhất và khuyến cáo việc đào tạo bắt đầu từ đó. Thay vào đó, người đánh giá phải xem xét mỗi kỹ năng trong mối tương quan đến toàn bộ các kỹ năng khác được liệt kê trong bảng đánh giá. Ví dụ, sẽ là không phù hợp nếu cố gắng dạy hội thoại cho trẻ chưa biết gọi tên hoặc xác định vật và hành động. Và tốt nhất thì trong 1 lúc ta chỉ nên tập trung vào phát triển một số lĩnh vực ngôn ngữ then chốt dù trẻ có thể yếu trong nhiều lĩnh vực. Việc chọn lựa mục tiêu ban đầu cho việc dạy ngôn ngữ là rất quan trọng cho cả trẻ và người hướng dẫn. Quan trọng là phải đảm bảo để trẻ thấy hào hứng tham gia vào chương trình và kết quả học được thể hiện khi trẻ sử dụng hiệu quả các kỹ năng được học vào hoạt động hàng ngày. Điều nữa cũng quan trọng là người hướng dẫn phải quan sát được việc trẻ nắm bắt được kỹ năng trong một khoảng thời gian tương đối ngắn và khi đó người hướng dẫn cũng duy trì được động lực để tiếp tục các hoạt động dạy ngôn ngữ cho trẻ. Dù chỉ có một số lĩnh vực được chọn cho chương trình can thiệp ban đầu nhưng tiêu điểm của việc can thiệp thì vẫn được thay đổi liên tục cùng với việc trẻ học được các kỹ năng mới. Để đưa ra được các thay đổi cần thiết này thì phải có người nắm rõ sự tiến bộ của trẻ (tiến hoặc lùi) và thường xuyên điều chỉnh chương trình theo đó.
Nói chung chiến lược tổng thể cho chương trình can thiệp ngôn ngữ là phát triển các kỹ năng cho trẻ để làm sao trẻ được 5 điểm trong mỗi lĩnh vực đánh giá (chỉ ngoại trừ phần chữ cái và con số). Mặc dù trẻ có thể đạt được 5 điểm trong một số lĩnh vực thì trẻ vẫn có thể cần được tiếp tục học về những kỹ năng đó. Điểm 5 trong một lĩnh vực chỉ ra rằng kỹ năng cụ thể đó có thể không cần phải can thiệp tăng cường như các kỹ năng đạt được điểm thấp khác. Phần 3 của quyển sách này sẽ cung cấp cho độc giả bản đánh giá và các khuyến nghị về việc dạy cho những trẻ đạt được trên 5 điểm khi đánh giá ban đầu.
Để giúp cho người đánh giá hiểu được kết quả đánh giá, sau đây là phần trình bày 5 trường hợp: lịch sử và phần đánh giá. Mỗi trường hợp thể hiện một mức độ của khả năng ngôn ngữ. Kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy phần lớn trẻ chậm nói gần như thuộc 1 trong 5 trường hợp này. Tất nhiên có thể có sự kết hợp về điểm và mỗi trẻ là khác biệt, nhưng lịch sử các trường hợp này có thể cung cấp cho người đánh giá một hình mẫu để hiểu được kết quả đánh giá, và thiết lập được một chương trình can thiệp phù hợp cho một trẻ cụ thể.
Tác giả: Tiến sĩ Mark Sundberg, Tiến sĩ James Partington

