Phương pháp can thiệp “cũ”: Là một trong những phương pháp phổ biến nhất hiện nay. Gia đình mời hoặc gia sư, hoặc chuyên gia phục hồi chức năng của viện nhi, hoặc giáo viên giáo dục đặc biệt, hoặc nhà tâm lý học…đến trị liệu cho trẻ tại nhà. Êkíp can thiệp cho trẻ có thể là một người hoặc một vài người hoặc tất cả trong số đó. KTV tự tìm hiểu, tổng kết từ các tài liệu, chương trình tập huấn và hoạt động thực tiễn để đề ra phương pháp dạy đối với từng trẻ.
Phương pháp can thiệp “mới”: kết hợp của phương pháp ABA, chương trình phục hồi trẻ bại não – Glenn Doman, chương trình cách dạy ngôn ngữ ứng xử cho trẻ tự kỷ và chậm phát triển tâm thần- Vincent Carbon, chương trình Từng bước nhỏ một của Đại học Marquarie, Sydney và kinh nghiêm bản thân Lê Thị Phương Nga đã xây dựng Chương trình “Bé yêu – Bé giỏi”
Mục tiêu chung của những phương pháp này đều nhằm cải thiện hành vi và phát triển nhận thức của trẻ, trẻ nghe lời. Tuy nhiên với những bài tập và tình huống cụ thể thì mỗi phương pháp lại có những mục tiêu riêng. Về nền tảng giáo dục đều theo lý thuyết chủ nghĩa hành vi. Song việc áp dụng những lý thuyết đó vào thực tiễn, cách thức, kết quả trẻ tiếp thu được lại rất khác nhau.
Bảng 1: So sánh phương pháp “mới” và phương pháp “cũ”
| STT | Nội dung | Phương pháp “cũ” | Phương pháp “mới” [5] |
| 1 | Vài nét chính | – Thời gian: Trẻ được can thiệp bởi các KTV 4 giờ/ngày. Thời gian còn lại do sự chăm sóc và giáo dục của gia đình.– Trình độ của KTV: trình độ đại học, các ngành tâm lý học, giáo dục đặc biệt, mầm non được đào tạo qua một số lớp tập huấn hoặc tự tham khảo tài liệu.– Nội dung học: học trên bàn (các kỹ năng, chơi đồ chơi, nhận biết, sử dụng đồ vật, …)– Phòng học: tuỳ điều kiện gia đình trẻ song lúc trẻ học phải có không gian riêng không ai làm phiền.
– Giáo cụ, đồ chơi: tuỳ theo lứa tuổi của trẻ, một phần do gia đình chuẩn bị, một phần do KTV tự trang bị |
– Thời gian: Cả ngày trẻ không bao giờ rảnh rỗi, được can thiệp bởi các KTV 4 giờ/ngày, thời gian còn lại gia đình can thiệp.– Trình độ của KTV: Trình độ hết lớp 12 trở lên, được học 40 giờ lý thuyết và quan sát, dự giờ những buổi của KTV nhiều kinh nghiệm hơn– Nội dung học: các bài tập phục hồi chức năng, các ký năng, học trên bàn (nhiều nội dung vận động não)– Phòng học: phòng riêng, không bố trí những gì làm trẻ lơ là mất tập trung, phòng phải đủ sáng, đủ lạnh– Giáo cụ đồ chơi: rõ ràng đơn giản về màu sắc, đa dạng về chủng loại. Hoàn toàn do gia đình chuẩn bị. |
| 2 | 2.1.Cách đối xử với trẻ:
2.2. Cách dạy trẻ
|
· Cách xử lý hành vi xấuNghiêm khắc với trẻ, làm cái gì đó cho trẻ sợ như lừ mắt, quát, hoặc roi vọt…· Cách củng cố hành vi tốtKhen và thưởng nhưng không phải lúc nào cũng khen ngay, thưởng ngay. Nhiều khi yêu cầu trẻ làm lại một lần nữa ngay lúc đó rồi mới thưởng.
· Cách dạy bài mới: số lượng bài mới giới thiệu ít, dựa trên khả năng của trẻ, trẻ học nhanh thì giới thiệu thêm bài mới, trẻ học chậm thì ôn đi ôn lại bài cũ, bài mới ít. · Cách kiểm tra bài cũ Thường xuyên kiểm tra, ôn đi ôn lại một số lượng kiến thức trong nhiều ngày
|
· Cách xử lý hành vi xấu:Bất cứ khi nào và ở đâu, không nhân nhượng, xử lý triệt để.· Cách củng cố hành vi tốt.Lời khen rồi đến phần thưởng, ngay sau khi trẻ có hành vi tốt từ 0-2giây, sau có thể chỉ khen không thưởng. Cho trẻ cơ hội tiếp tục thể hiện hành vi tốt nhưng không bắt lặp lại ngay lúc đó.· Cách dạy bài mới: thường xuyên giới thiệu cái mới hàng ngày với số lượng lớn. Luôn bắt đầu từ những thứ trẻ thích, trẻ làm được
· Cách kiểm tra bài cũ Không kiểm tra mà tạo điều kiện cho trẻ cơ hội thể hiện cái trẻ biết – Bài học phải được trộn lẫn và tráo đổi liên tục, không đơn điệu, không lặp lại trong 1 tua dạy (trừ khi xen vào giữa những cái khác). – Dừng lại trước khi trẻ muốn dừng |
| 3 | Nguyên tắc chung | – KTV nói chậm, ngắn gọn, to, rõ để trẻ hiểu
– KTV nói là làm, không xoá lệnh: nghĩa là cô ra lệnh trẻ phải làm kể cả phải đe doạ, dùng roi…
– Cô luôn đúng: chỉ cho trẻ thấy cái sai của trẻ, làm theo cô mới đúng |
KTV nói nhanh để giữ sự tập trung chú ý của trẻ, nói to, dứt khoát, không lên bổng xuống trầm.- Giảm thời gian chết, không có khoảng trống về thời gian, các câu hỏi và hoạt động liên tiếp cho đến lúc rời khỏi bàn- KTV nói là làm, không xoá lệnh: nghĩa là cô ra lệnh trẻ phải làm. Nếu không biết thì giúp toàn phần, nếu trẻ biết mà không chịu làm thì cầm tay trẻ làm nhưng nắm tay thật chặt (trẻ sẽ rất khó chịu và lần sau sẽ tự làm)- Trẻ luôn đúng: không bao giờ để trẻ sai, thất bại- Đối xử với trẻ công bằng, tôn trọng |
| 4 | Phản ứng của trẻ | Trẻ sợ các KTV, nhiều lúc chán nhưng vẫn phải làm theo, nảy sinh tâm lý tiêu cực và hành vi xấu. Vâng lời một cách ép buộc. | Trẻ vui vẻ, thích học trên bàn, rất quí các KTV. Vâng lời một cách tự nguyện. Thỉnh thoảng có hành vi xấu khi làm các bài tập phục hội chức năng |
Ngoài ra, tại các gia đình theo phương pháp “mới” còn có luật và chính sách:
Mọi cái ghi trong luật đều phải làm. Luật cho trẻ biết mình chờ đợi gì ở trẻ, trẻ được làm gì và không được làm gì. Luật phải công khai, rõ ràng, ở nơi dễ thấy, dễ biết. Luật phải đủ tính răn đe. Hình phạt đối với hành vi xấu giống như liều thuốc trụ sinh. Nếu luật không đủ tính răn đe, hình phạt không đủ, trẻ sẽ nhờn, không sợ. Nếu luật đủ tính răn đe, hành vi xấu sẽ mất. Luật phải khả thi.
VD: Làm một bài trong hai mươi phút được thưởng 1/4 cái bánh, nếu trẻ làm xong một phút rưỡi thì cho trẻ cả cái bánh, ba phút mới xong thì cô ăn bánh luôn. Chính sách phải rõ ràng, công khai, phải đủ tính khích lệ, phải khả thi ( khi yêu cầu trẻ làm bài trong 2 phút phải biết chắc trẻ làm, nếu trẻ biết là trẻ không thể làm xong trong hai phút, trẻ sẽ bỏ đi luôn). Tuỳ từng thời điểm phục hồi để điều chỉnh chính sách cho phù hợp.
Thêm nữa, chủ trương của phương pháp mới coi nguyên nhân của bệnh tự kỷ là do não của trẻ bị tổn thương. Mỗi chức năng có thể được điều khiển bởi một phần của não nhưng tất cả các chức năng của chúng ta phối hợp với nhau một cách hài hoà vì não là một khối thống nhất. Tuy các chức năng hoạt động tương đối đọc lập nhưng khi một chức năng bị tổn thương thì hoạt động của các chức năng khác cũng ít nhiều bị ảnh hưởng. Não không tái sinh tế bào, nếu tế bào não chết đi sẽ không có tế bào mới thay thế. Tuy nhiên trẻ có thể học để thay thế chức năng. Khi một phần não nào đó bị tổn thương dẫn đến việc mất chức năng cơ thể (mất một phần hoặc toàn phần) thì phần não “láng giềng” – tương ứng – có thể học cách tiếp nhận thông tin và chỉ đạo cơ thể phục hòi được chức năng đã mất nếu được kích thích và huấn luyện đúng cách. Một quan niệm nữa của phương pháp “mới” cũng còn xa lạ với nhiều người. Đó là não là một “dụng cụ chứa đặc biệt”. Khi bỏ vào đó càng nhiều thì sức chứa của nó càng tăng lên. Trẻ học được nhiều hay ít, giỏi hay không nằm ở chỗ phương pháp dạy chứ không phải khả năng tiếp nhận thông tin của não. Cũng như các bộ phận khác của cơ thể, não cũng cần vận động để tồn tại nhưng theo cách riêng của nó. Nhiệm vụ của não là xử lý thông tin từ môi trường truyền vào thông qua các giác quan rồi chỉ đạo cơ thể phản ứng để trả lời môi trường bên ngoài. Cách duy nhất để vận động não là tạo thật nhiều cơ hội cho não nhận được các kích thích, các thông tin từ môi trường bên ngoài thông qua 5 giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác. Đó là 5 đường quan trọng dẫn truyền kích thích, thông tin đi tới não.Shaping tomorrow with innovative vision learn more.
Theo phương pháp “mới” trẻ phải tập các bài tập phục hồi chức năng và chương trình vận động não sau:
Phục hồi chức năng:
– Phối hợp chéo giữa chân và tay: bò (1,6km/ngày), trườn (1,6km/ngày), chạy, đi bộ (tối thiểu 2km/ngày), bơi, vận động chéo (60phút/ngày) (xem ảnh minh hoạ ở phụ lục 5). Phối hợp chéo có tác dụng tăng sự phối hợp điều khiển của các cơ quan chức năng, tốt cho sự phục hồi của não giữa (thở, nghe, kết hợp cơ quan phát âm), cũng củng cố phần chức năng của vỏ não (xử lý thông tin, sắp xếp tổ chức ngôn từ, vấn đề bên thuận – thuận trái/phải).
– Hô hấp, cải thiện tình trạng thiếu oxy: thở mặt nạ và tập đai (ảnh minh họa trong phụ lục 5)
– Thị giác: 1- tập bằng đèn 500-1000W trong phòng tối đối với những trẻ thị giác bị tổn thương nặng (biểu hiện mắt lệch nhiều-lác, nhìn kém, mắt đảo liên tục…). Còn lại tập nhìn bảng đen trắng: 1 tấm giấy đen rồi đến 1 tấm giáy trắng, tráo trước mặt trẻ mỗi tấm 1giây, 10 phút làm 1 lần, mỗi lần 5 đen, 5 trắng. Ngoài ra có thể xem đĩa tập mắt. 2- tập bơi lội, chuyền cành, đu xà (phụ).
– Thính giác: tập còi hơi, phải bất ngờ, trung bình 20- 40 tiếng còi/1 ngày, để còi phía sau gáy trẻ cách xa 0,5m , mỗi lần một tiếng còi. Ngoài ra còn đập gỗ 40 – 60 lần/ngày, cách tai 20cm. Tập cho đến khi trẻ định vị được âm thanh thì dừng.
– Xúc giác: dùng kim châm, dụng cụ massa hoặc móng tay, châm vào da trẻ rồi xoa ngay tại chỗ châm (20 phút/ngày). Ngoài ra còn trườm nóng lạnh: dùng một chai nước nóng để lên điểm nào 1 giây rồi đến một chai nước lạnh (15 phút /ngày). Ví dụ trẻ đi nhón chân thì kích thích từ đầu gối xuống bàn chân, đặc biệt là lòng bàn chân.
Yêu cầu đối với các kích thích:
- Phải đủ mạnh mới đủ sức truyền kích thích lên vùng não “phía trên”, nói một cách hình ảnh là nó đi vòng qua vùng não chết, vùng não bị tổn thương để lên vùng não còn hoạt động.
- Phải đủ dày mới đủ sức lưu giữ được thông tin trong não.
- Phải đủ lâu: con đường lên tới vùng trí nhớ khó khăn hơn rất nhiều so với trẻ thường. Do đó phải kiên trì dạy đến khi trẻ thực sự hiểu, thực sự nhớ.
Chương trình vận động não
– Chương trình học toán: phương pháp học bằng thẻ chấm trước để dạy về giá trị thật, sau đó mới chuyển qua học số viết theo quy ước của xã hội. Thẻ chấm, thẻ số từ 1 đến 100, thẻ dấu +, -, x, ữ .
– Chương trình học đọc: phương pháp chụp hình mặt chữ, không đánh vần. Làm thẻ chữ: từ đơn, từ đôi, câu…Tráo trước mặt trẻ mỗi thẻ 1 giây, mỗi lần tối đa 5 thẻ và đọc: VD: bố, mẹ, con, bà, cô. Sau đó đổi thứ tự để lần khác giới thiệu trẻ không thuộc lòng.
So sánh kỹ thuật của người can thiệp
| Kỹ thuật | Theo phương pháp “cũ” | Theo phương pháp “mới” |
| Tốc độ dạy | Bình thường hoặc chậm | Nhanh |
| Kiểm tra | – Thường xuyên kiểm tra với mục đích xem trẻ đã biết chưa.- Chờ đợi câu trả lời của trẻ, nếu trẻ trả lời sai thì nói với trẻ “con sai rồi, phải…như vậy mới đúng này”- Đòi hỏi ở trẻ nhiều thứ như nói to lên, nhắc lại đi, … | – Không kiểm tra mà cho trẻ nhiều cơ hội thể hiện cái trẻ biết. Cho trẻ lựa chọn câu trả lời.- KTV giúp bằng cách cho trẻ ngay lập tức câu trả lời đúng- Chấp nhận mọi cách mà trẻ đã thể hiện là trẻ biết, không đòi hỏi nhiều ngay lúc đó. |
| Khen thưởng | Chỉ khen khi trẻ làm tốt. Khen trẻ giỏi. VD: “A, bạn M giỏi quá! M làm đúng rồi cô thưởng M này.” | Khen mọi cố gắng dù rất nhỏ, dù kết quả chưa tốt lắm, chỉ nói ngắn gọn “Hay”, “giỏi”. Không khen trẻ giỏi mà khen cái trẻ làm giỏi.VD: KTV yêu cầu: “chỉ mũi”, trẻ chỉ đúng. KTV khen: “mũi giỏi”. Thưởng ngay, không nói “thưởng con này” |
| Trừng phạt | – Khi trẻ không nghe lời, biết mà không làm- Khi trẻ có hành vi ứng xử xấu- Hình phạt là những thứ trẻ không thích, khiến trẻ sợ, khó chịu… Doạ, phạt nhiều khi không ngay lúc đó. | – Trẻ mất quyền lợi nếu biết mà không làm (KTV giúp toàn phần, phần thưởng thuộc về KTV)- Xử lý ngay lập tức khi trẻ có hành vi xấu. Một số trường hợp thông báo trước nhưng ít. |
| Dạy cái mới | – Giới thiệu nhiều lần/buổi, nhiều phút/1lần, nhiều phút cho mỗi cái mới, hết cái này mới đến cái khác, nhắc đi nhắc lại, kéo dài trong nhiều buổi cho đến khi trẻ biết.- số nội dung mới trong mỗi buổi ít. | Giới thiệu cái mới mỗi lần chỉ xuất hiện 1 giây, 1 lần/buổi, 3 lần/ngày, nhiều nhất trong 5 ngày. Sau 5 ngày đưa sang mục kiểm tra.- nội dung mới tối thiểu là 20%, phong phú, nhiều chủ đề |
| Nguyên tắc dạy | – KTV chủ động về nội dung, không quan trọng là trẻ thích hay không mà trẻ cần học và phải học- Khi nào KTV muốn dừng việc dạy, trẻ mới được dừng | – Luôn bắt đầu bằng những thứ trẻ thích, trẻ làm được- Dừng lại trước khi trẻ muốn dừng |
( Tham khảo)
